Phân tích 04 yếu tố cấu thành tội nhận hối lộ

cấu thành tội nhận hối lộ

Cấu thành tội nhận hối lộ là nội dung pháp lý quan trọng trong nhóm các tội phạm về tham nhũng theo Bộ luật Hình sự. Việc hiểu đúng cấu thành tội nhận hối lộ giúp xác định chính xác thời điểm tội phạm hình thành, điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự và khung hình phạt áp dụng. Trong bài viết này, HÃNG LUẬT QUỐC TẾ TỰ DO sẽ phân tích các yếu tố pháp lý cốt lõi để làm rõ khi nào hành vi nhận hối lộ bị coi là tội phạm theo quy định hiện hành.

Tội nhận hối lộ là gì?

Theo khoản 1 Điều 354 Bộ luật Hình sự năm 2015, tội nhận hối lộ là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận cho chính mình hoặc cho người, tổ chức khác tiền, tài sản, lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ.

Quy định này cho thấy, cấu thành tội nhận hối lộ không chỉ giới hạn ở việc đã nhận của hối lộ trên thực tế, mà còn bao gồm cả trường hợp “sẽ nhận” khi đã có sự thỏa thuận hoặc cam kết giữa người nhận và người đưa hối lộ. Đây là đặc điểm quan trọng để xác định tội nhận hối lộ cấu thành khi nào trong thực tiễn áp dụng pháp luật.

Tội nhận hối lộ cấu thành khi nào theo quy định pháp luật?

Cấu thành tội nhận hối lộ được coi là hoàn thành kể từ thời điểm người có chức vụ, quyền hạn đã nhận hoặc đã có thỏa thuận chắc chắn về việc sẽ nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ.

Yếu tố cấu thành tội nhận hối lộ
Yếu tố cấu thành tội nhận hối lộ

Pháp luật không đòi hỏi người phạm tội phải thực tế đã thực hiện xong công việc theo yêu cầu thì tội phạm mới hoàn thành. Tòa án thường xác định cấu thành tội nhận hối lộ đã hoàn thành ngay cả trong trường hợp người nhận mới chỉ nhận một phần của hối lộ hoặc mới thỏa thuận về việc nhận lợi ích sau khi hoàn thành công việc.

Khách thể cấu thành tội nhận hối lộ

Khách thể của cấu thành tội nhận hối lộ là hoạt động đúng đắn, bình thường và tính liêm chính trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có sử dụng người có chức vụ, quyền hạn. Hành vi nhận hối lộ làm suy giảm uy tín của bộ máy nhà nước, làm sai lệch việc thực hiện công vụ và gây mất niềm tin của xã hội đối với hoạt động quản lý.

Khác với các tội xâm phạm sở hữu, cấu thành tội nhận hối lộ không nhằm bảo vệ trực tiếp một tài sản cụ thể, mà bảo vệ trật tự pháp lý trong lĩnh vực quản lý và thực thi quyền lực. Việc xác định đúng khách thể là cơ sở để phân biệt tội nhận hối lộ với các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn khác nhưng không nhằm mục đích nhận lợi ích.

Chủ thể cấu thành tội nhận hối lộ

Chủ thể của cấu thành tội nhận hối lộ là chủ thể đặc biệt. Người phạm tội bắt buộc phải là người có chức vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật, đồng thời đạt độ tuổi và có năng lực trách nhiệm hình sự.

Căn cứ Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội nhận hối lộ. Ngoài điều kiện về độ tuổi, chủ thể của cấu thành tội nhận hối lộ phải có chức vụ, quyền hạn gắn liền với việc giải quyết công việc mà người đưa hối lộ yêu cầu. Trường hợp người có chức vụ nhưng chức vụ đó không liên quan đến công việc được yêu cầu thì không hình thành cấu thành tội nhận hối lộ, mà có thể cấu thành tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi.

Xem thêm: Độ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự là bao nhiêu

Trong thực tiễn xét xử, việc chứng minh mối liên hệ giữa chức vụ, quyền hạn và công việc được yêu cầu là nội dung trọng tâm khi xác định cấu thành tội nhận hối lộ.

Mặt chủ quan cấu thành tội nhận hối lộ

Mặt chủ quan của cấu thành tội nhận hối lộ được thể hiện thông qua lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi nhận lợi ích của mình là trái pháp luật, nhận thức được hậu quả làm sai lệch hoạt động công vụ, nhưng vẫn mong muốn thực hiện hành vi đó.

Mục đích của hành vi là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội nhận hối lộ. Người phạm tội nhận lợi ích nhằm làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Nếu việc nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích không gắn với mục đích này thì không hình thành cấu thành tội nhận hối lộ.

Trong khoa học luật hình sự, không tồn tại trường hợp nhận hối lộ với lỗi cố ý gián tiếp. Đây là điểm khác biệt quan trọng giúp xác định rõ tội nhận hối lộ cấu thành khi nào trong từng vụ việc cụ thể.

Mặt khách quan cấu thành tội nhận hối lộ

Mặt khách quan của cấu thành tội nhận hối lộ thể hiện ở hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất. Hành vi này có thể được thực hiện trực tiếp hoặc thông qua trung gian.

Việc nhận hối lộ trực tiếp là trường hợp người có chức vụ, quyền hạn trực tiếp nhận lợi ích từ người đưa hối lộ, kể cả thông qua các phương thức chuyển giao gián tiếp như chuyển khoản, dịch vụ trung gian. Trường hợp nhận qua trung gian là khi lợi ích được chuyển thông qua người môi giới hoặc người thứ ba, nhưng cuối cùng vẫn hướng đến người có chức vụ, quyền hạn.

Theo Điều 354 Bộ luật Hình sự, cấu thành tội nhận hối lộ được xác lập trong các trường hợp nhận lợi ích có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên, hoặc dưới mức này nhưng đã bị xử lý kỷ luật, đã bị kết án về các tội tham nhũng mà chưa được xóa án tích, hoặc nhận lợi ích phi vật chất.

Đặc biệt, trường hợp người có chức vụ, quyền hạn chỉ nhận quà biếu sau khi đã thực hiện đúng chức trách, không có thỏa thuận trước, không gắn với yêu cầu công việc, thì không hình thành cấu thành tội nhận hối lộ.

Các khung hình phạt đối với tội nhận hối lộ

Khi hành vi đã đủ dấu hiệu hình thành cấu thành tội nhận hối lộ, người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các khung hình phạt được quy định tại Điều 354 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Các khung hình phạt được xây dựng dựa trên giá trị của hối lộ, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và các tình tiết định khung.

  • Đối với cấu thành tội nhận hối lộ ở khung cơ bản quy định tại khoản 1 Điều 354, người phạm tội bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm khi nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật hoặc đã bị kết án về các tội tham nhũng mà chưa được xóa án tích, hoặc nhận lợi ích phi vật chất.
  • Khung hình phạt tăng nặng tại khoản 2 Điều 354 áp dụng đối với các trường hợp cấu thành tội nhận hối lộ có các tình tiết như phạm tội có tổ chức, lạm dụng chức vụ, quyền hạn, đòi hối lộ, sách nhiễu, dùng thủ đoạn xảo quyệt, hoặc của hối lộ có giá trị từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng. Trong các trường hợp này, người phạm tội bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
  • Đối với các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, khi của hối lộ có giá trị từ 1.000.000.000 đồng trở lên hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 5.000.000.000 đồng trở lên, cấu thành tội nhận hối lộ tương ứng với khung hình phạt cao nhất là tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình theo khoản 4 Điều 354 Bộ luật Hình sự.

Việc áp dụng khung hình phạt nào phụ thuộc vào việc chứng minh đầy đủ các dấu hiệu định khung trong cấu thành tội nhận hối lộ, đặc biệt là giá trị của hối lộ và hậu quả gây ra.

Hình phạt bổ sung 

Ngoài hình phạt chính là phạt tù, người phạm tội đủ cấu thành tội nhận hối lộ còn có thể bị áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định của pháp luật hình sự. Cụ thể, khoản 5 Điều 354 Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Bên cạnh đó, người phạm tội nhận hối lộ còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Đây là biện pháp quan trọng nhằm ngăn ngừa nguy cơ tái phạm và bảo đảm tính trong sạch của bộ máy công quyền.

Trong nhiều trường hợp, Tòa án còn áp dụng biện pháp tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản đối với người phạm tội khi xét thấy cần thiết. Việc tịch thu tài sản được áp dụng trên cơ sở đánh giá mối liên hệ giữa tài sản đó và hành vi phạm tội trong cấu thành tội nhận hối lộ.

Một số lưu ý thêm 

Trong thực tiễn xét xử, việc quyết định hình phạt đối với người phạm tội nhận hối lộ không chỉ căn cứ vào khung hình phạt được quy định tại Điều 354 Bộ luật Hình sự mà còn phải tuân thủ các nguyên tắc chung về quyết định hình phạt tại Chương VIII Bộ luật Hình sự, từ Điều 50 đến Điều 59.

Đối với cấu thành tội nhận hối lộ ở khung cơ bản, nếu người phạm tội có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng, Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang hình phạt nhẹ hơn theo quy định của pháp luật. Lý do giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.

Trường hợp người phạm tội đủ điều kiện theo Điều 65 Bộ luật Hình sự thì có thể được xem xét cho hưởng án treo. Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc cho hưởng án treo đối với tội nhận hối lộ được áp dụng rất hạn chế do tính chất đặc biệt nghiêm trọng của loại tội phạm này và yêu cầu đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Ngược lại, nếu người phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng theo Điều 52 Bộ luật Hình sự, không có hoặc có rất ít tình tiết giảm nhẹ, thì mức hình phạt sẽ được áp dụng nghiêm khắc hơn trong cùng một khung hình phạt. Các yếu tố như việc trả lại toàn bộ hoặc một phần tiền, tài sản đã nhận, khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo thường được Tòa án xem xét khi xử phạt đối với tội nhận hối lộ.

Các câu hỏi thường gặp về cấu thành tội nhận hối lộ

Nhận hối lộ dưới 2 triệu đồng có cấu thành tội phạm không?

Nhận hối lộ dưới 2.000.000 đồng vẫn có thể cấu thành tội nhận hối lộ nếu người nhận đã từng bị xử lý kỷ luật về hành vi này hoặc đã bị kết án về các tội tham nhũng mà chưa được xóa án tích. Trường hợp không thuộc các điều kiện trên thì hành vi chưa đủ dấu hiệu cấu thành tội nhận hối lộ.

Nhận lợi ích phi vật chất có cấu thành tội nhận hối lộ không?

Theo Điều 354 Bộ luật Hình sự năm 2015, việc nhận lợi ích phi vật chất như lợi ích tinh thần, lợi ích về quan hệ, tình cảm cũng được xem là dấu hiệu của cấu thành tội nhận hối lộ nếu việc nhận đó nhằm đổi lấy việc làm hoặc không làm một công việc theo yêu cầu của người đưa hối lộ.

Nhận quà biếu sau khi làm xong việc có cấu thành tội nhận hối lộ không?

Trường hợp người có chức vụ, quyền hạn nhận quà biếu sau khi đã thực hiện công việc đúng chức trách, không có thỏa thuận trước và không gắn với yêu cầu vụ lợi thì không đủ dấu hiệu cấu thành tội nhận hối lộ. Ngược lại, nếu có căn cứ chứng minh mối quan hệ trao đổi lợi ích thì vẫn bị xem xét trách nhiệm hình sự.

Qua phân tích toàn diện các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, có thể khẳng định rằng cấu thành tội nhận hối lộ là một chế định pháp lý chặt chẽ, được xây dựng trên cơ sở bốn yếu tố bắt buộc gồm chủ thể, khách thể, mặt khách quan và mặt chủ quan. Việc xác định đúng cấu thành tội nhận hối lộ không chỉ có ý nghĩa trong việc định tội danh, áp dụng khung hình phạt chính xác mà còn là cơ sở bảo đảm nguyên tắc xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, các tình tiết về giá trị của hối lộ, hình thức nhận lợi ích, thời điểm hoàn thành tội phạm và vai trò của người phạm tội đều có ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định cấu thành tội nhận hối lộ cũng như mức độ trách nhiệm hình sự phải gánh chịu. Do đó, việc nghiên cứu kỹ các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm này là yêu cầu cần thiết đối với cá nhân, tổ chức và những người đang công tác trong khu vực công cũng như khu vực ngoài Nhà nước.

Trường hợp cần tư vấn, giải thích chuyên sâu hoặc hỗ trợ pháp lý liên quan đến cấu thành tội nhận hối lộ, HÃNG LUẬT QUỐC TẾ TỰ DO sẵn sàng đồng hành, cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật hình sự, tham gia bào chữa và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho khách hàng trên toàn quốc.

📞 Hotline: 0901.109.768
📧 Website: https://luattudo.com

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

0901.109.768