Tội Lợi Dụng Chức Vụ, Quyền Hạn Trong Khi Thi Hành Công Vụ Điều 356 Bộ Luật Hình sự

Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi thi hành công vụ

Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ thuộc nhóm các tội phạm về chức vụ, được quy định tại Điều 356 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Theo đó, người đứng trong vị trí có chức vụ, quyền hạn lợi dụng ảnh hưởng của mình để thúc đẩy người khác làm hoặc không làm việc thuộc trách nhiệm công vụ, hoặc thực hiện hành vi vượt quá thẩm quyền sẽ bị xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự.

Thời gian gần đây, nhiều vụ án với hành vi này đã được khởi tố, điều tra và xét xử, gây thiệt hại lớn cho tài sản Nhà nước và quyền lợi của tổ chức, cá nhân.

Bài viết dưới đây, Hãng Luật Quốc Tế Tự Do sẽ phân tích các yếu tố cấu thành tội, khung hình phạt theo Điều 356 Bộ luật Hình sự và trách nhiệm pháp lý đối với người phạm tội.

Các yếu tố cấu thành tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

Theo Điều 356 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung tại điểm s khoản 1 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 2017, tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ được xác định khi người có chức vụ, quyền hạn vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác, sử dụng quyền hạn được giao làm trái nhiệm vụ, công vụ, qua đó gây thiệt hại về tài sản hoặc gây thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Để một hành vi bị coi là tội phạm theo Điều 356 Bộ luật Hình sự, cần xem xét đầy đủ các yếu tố cấu thành sau đây:

Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ là người có chức vụ, quyền hạn, bao gồm cán bộ, công chức, viên chức hoặc người được giao thực hiện nhiệm vụ nhất định trong cơ quan, tổ chức. Ngoài ra, người phạm tội phải đáp ứng các điều kiện sau:

– Có năng lực trách nhiệm hình sự, tức là có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình;

– Đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự: theo Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội danh này.

Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan thể hiện qua hành vi và hậu quả do hành vi đó gây ra.

Về hành vi: Người phạm tội vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để:

– Làm trái quy định của pháp luật trong quá trình thực hiện công vụ;

– Thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nhiệm vụ được giao.

Theo hướng dẫn tại Điều 3 Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP, có thể hiểu:

– Vụ lợi là nhằm đạt được lợi ích vật chất hoặc phi vật chất không chính đáng cho bản thân hoặc cho người khác;

– Lợi dụng chức vụ, quyền hạn là dựa vào vị trí, quyền lực được giao để thực hiện hành vi trái pháp luật;

– Động cơ cá nhân khác là nhằm củng cố, nâng cao vị trí, uy tín, quyền lực cá nhân một cách không chính đáng.

Về hậu quả: Hành vi trên phải gây ra một trong các hậu quả sau:

– Gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng trở lên; hoặc

– Gây thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Mặt chủ quan của tội phạm

Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ được thực hiện lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội:

– Nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật;

– Biết rõ hậu quả có thể xảy ra;

– Nhưng vẫn chủ động thực hiện vì mục đích vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác.

Khách thể của tội phạm

Hành vi phạm tội xâm phạm đến:

Hoạt động đúng đắn, uy tín và sự liêm chính của cơ quan, tổ chức;

– Đồng thời xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và cá nhân.

Đây là nhóm tội phạm làm suy giảm niềm tin của xã hội vào bộ máy công quyền và trật tự quản lý hành chính.

Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi thi hành công vụ Điều 356 Bộ luật Hình sự
Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi thi hành công vụ Điều 356 Bộ luật Hình sự

Khung hình phạt đối với tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

Tùy vào mức độ vi phạm và hậu quả gây ra, người có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ sẽ bị xử lý hình sự theo các mức khác nhau. Theo Điều 356 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung tại điểm s khoản 1 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 chia khung hình phạt thành 4 mức, từ nhẹ đến nặng, cụ thể như sau:

Mức xử phạt cơ bản (khung nhẹ nhất)

Người phạm tội vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác, lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ và: Gây thiệt hại về tài sản từ 10 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng hoặc gây thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì có thể bị: Cải tạo không giam giữ đến 03 năm, hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Đây là khung hình phạt thường áp dụng đối với hành vi phạm tội lần đầu, chưa có tình tiết tăng nặng đặc biệt.

Mức xử phạt tăng nặng

Người phạm tội sẽ bị xử phạt nặng hơn nếu thuộc một trong các trường hợp:

– Phạm tội có tổ chức;

– Phạm tội từ hai lần trở lên;

– Gây thiệt hại về tài sản từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.

Hình phạt áp dụng trong trường hợp này là phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

Mức xử phạt đặc biệt nghiêm trọng (khung nặng nhất)

Trường hợp hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng trở lên, người phạm tội có thể bị: Phạt tù từ 10 năm đến 15 năm.

Đây là mức án cao nhất đối với tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ theo quy định hiện hành.

Hình phạt bổ sung

Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị:

– Cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm;

– Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng.

Hình phạt bổ sung này nhằm ngăn chặn việc tiếp tục lợi dụng quyền lực trong hoạt động công vụ.

Khung hình phạt theo Điều 356 Bộ luật Hình sự
Khung hình phạt theo Điều 356 Bộ luật Hình sự

Khi nào được khởi tố vụ án hình sự đối với tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ?

Điều kiện bắt buộc để khởi tố vụ án

Căn cứ Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, cơ quan có thẩm quyền chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Dấu hiệu tội phạm ở đây được hiểu là có căn cứ cho thấy hành vi xảy ra có đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Như vậy, dù người thực hiện hành vi là cán bộ, công chức hay người có chức vụ, quyền hạn thì chỉ khi có dấu hiệu của tội phạm, cơ quan tiến hành tố tụng mới được ra quyết định khởi tố.

Các căn cứ để xác định dấu hiệu tội phạm

Theo khoản 1 Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, dấu hiệu của tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ có thể được xác định từ một trong các nguồn sau:

  1. Tố giác của cá nhân (ví dụ: người dân, người bị thiệt hại);
  2. Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
  3. Thông tin trên phương tiện thông tin đại chúng;
  4. Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (thanh tra, kiểm toán…);
  5. Cơ quan tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm trong quá trình công tác;
  6. Người thực hiện hành vi phạm tội tự thú.

Khi có một trong các căn cứ nêu trên và qua xác minh ban đầu cho thấy có dấu hiệu của tội phạm theo Điều 356 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung tại điểm s khoản 1 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 2017, cơ quan điều tra sẽ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự theo đúng trình tự luật định.

Dịch vụ tư vấn pháp lý của Hãng Luật Quốc Tế Tự Do

Hãng Luật Quốc Tế Tự Do cung cấp dịch vụ tư vấn và giải quyết các vụ án hình sự về tội phạm chức vụ, trong đó có tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ theo Điều 356 Bộ luật Hình sự. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trực tiếp tư vấn, đánh giá vụ việc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho khách hàng theo đúng quy định pháp luật.

Các dịch vụ chính gồm:

– Tư vấn dấu hiệu cấu thành tội phạm, khung hình phạt và tình tiết giảm nhẹ;

– Bào chữa cho bị can, bị cáo; bảo vệ quyền lợi cho người bị hại;

– Hỗ trợ soạn thảo đơn tố giác, kiến nghị khởi tố và tham gia tố tụng hình sự.

Hãng Luật Quốc Tế Tự Do cam kết chuyên nghiệp – bảo mật – hiệu quả, đồng hành cùng khách hàng trong suốt quá trình giải quyết vụ việc.

Hotline tư vấn: 0901 109 768

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

0901.109.768